French (Fr)Viet Nam

Đăng nhập



Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay147
mod_vvisit_counterHôm qua99
mod_vvisit_counterTuần này147
mod_vvisit_counterTháng này2409
mod_vvisit_counterTổng322228

 

 

 

Tản mạn bốn phương
Lòng trắc ẩn PDF. In Email
Viết bởi Đỗ Đức   
Thứ ba, 23 Tháng 11 2010 19:00

1- Ngày còn ở nhà, tôi làm thịt gà vịt không thấy ngại, tay chẳng run . Nghe thấy ai đó nói không dám cắt tiết một con gà mình bụng bảo dạ rằng sao nhát thế.

Rồi đến một ngày kia đi qua đường công viên Thống Nhất thấy người ở thôn quê đem những chú chim giẽ đã vặt trụi lông, buộc túm chân treo ở ghi đông xe rao bán. Có lúc còn thấy họ lúi húi ngồi vặt nốt lông những con còn lại. Những túm lông trắng ném ra bay lùm xùm, cuộn xoáy một góc đường như cơn lốc của ma cụt đầu. Con chim nhỏ bé tội nghiệp chỉ còn giãy dụa một cách bất lực. Lại nhìn thấy những con trụi lông đỏ hỏn run run trong cái rét chập chờn của ngày tháng Mười, tự nhiên thấy lòng chùng xuống thương cho số phận những con chim quen sống tự do đen đủi bị sập bẫy. Lúc ấy với chúng trời xanh cao lồng lộng đẹp đẽ nhường nào chỉ còn là kí ức cuối cùng trong đời, thấy lòng tự nhiên chùng xuống. Một nỗi buồn tâm thế chảy u ám trong người.

Rồi một lần ngồi nhặt cua làm bữa riêu thấy những con cua xô nhau chạy trong chậu để tránh bị bắt, hai mắt giương lên ngơ ngác. Khi bị bóc mai, chúng run lên lần cuối  từ giã cõi đời, hai con mắt đột nhiên đờ đẫn gãy gập xuống,  những chiếc càng cứng cỏi bỗng nhiên buông xuôi, các chân con rúm ró, có cái tự rụng ra khỏi thân. Đó là cơn đau đớn cuối cùng của một kiếp phù du.

Tôi kể chuyện đó cho một nguời bạn. Bạn tôi không bàn thêm mà chỉ chậm rãi bảo có lẽ thế là mình đã già rồi, có già mới yếu đuối thế.

Tôi lờ mờ chìm theo suy ngẫm của bạn, phải chăng mình đã già thật.

2- Khu tôi ở có một Chủ tịch huyện. Chủ tịch còn khá trẻ. Bố anh ta là một lão thành cách mạng. Thời kháng chiến ông đã từng ăn cơm tù đế quốc. Rồi ông về hưu với vị trí của một thường vụ Tỉnh ủy. Tài sản của ông để lại chính là uy tín để cho  cậu con trai thăng tiến lên đến chức vụ kể trên. Ngỡ là nối nghiệp cha, nhưng từ đấy cũng là lúc gia đình ông rơi vào cảnh giông bão khi ông biết  thằng con trai đã làm những chuyện kéo bè kết cánh, ăn của đút, kiếm chác như điên, bất chấp tất cả. Có lần ngồi bên ông già tuổi ngoài tám mươi đầy tâm sự, tự nhiên tôi cảm thấy ông giống hệt con chim giẽ đang bị vặt từng cái lông tự hào khí phách một thời mà giờ bất lực không làm gì được. Ngẫm ra nó đang kinh doanh trên thành quả của ông. Ông đau thực sự. Để chứng minh cho tấm lòng son sắt của mình ông chỉ còn mỗi cách từ nó. Tưởng rằng làm thế rồi nó sẽ thay đổi, nhưng nó chỉ nhìn ông cười ruồi, chấp nhận luôn lời cảnh cáo cuối cùng của bố. Nó bảo ông ấy từ cũng được, già rồi lẩm cẩm!

3- Săn bắt vô lối, khi thiên nhiên cạn kiệt những chú chim trời thì kẻ săn mồi sẽ sống bằng gì? Khi tham nhũng kết bầy đàn xâu xé những đồng tiền xương máu của dân thì xã hội còn gì…Có câu trả lời của một kẻ tham nhũng như thế này: Sống là phải thế thôi. Trong đám người đó có kẻ đã qua cái tuổi ngũ thập tri thiên mệnh và cả loại lục thập thuận nhĩ cũng đang nghĩ thế và muốn làm hơn thế. Đó là những người đã đi vào một phần tuổi già mà còn thế. Tôi đâm nghi ngờ, phải chăng bạn tôi đã nhầm khi cho rằng biết thương xót một sinh linh bé nhỏ, hoặc thân phận của những  người nghèo, và bảo đó là do người ta đã  già. Chẳng nhẽ lòng trắc ẩn lại là của riêng người già?

15/10/2010
LAST_UPDATED2
 
Giấy dó và tranh giấy dó PDF. In
Viết bởi ĐỖ ĐỨC   
Thứ sáu, 10 Tháng 7 2009 22:45

 ACEEV xin trân trọng giới thiệu, đến với các bạn một họa sĩ tài năng và một nguyên liệu di sản, gia tài ông cha để lại mà có thể nói có một gía trị độc nhất đó là giấy DÓ.


Lịch sử đất nước ta, từ thời đại các vua Hùng đến nay, dài theo kháng chiến dành độc lập và quyền tự chủ, và cũng ít nhiều có bị ảnh hưởng ngoại bang. Giấy DÓ không được khai thác, truyền bá sâu rộng hơn,  hay là chỉ giản dị « bụt nhà không thiêng » đó thôi.  

Hôm nay, qua anh Đỗ Đức, ACEEV có cơ hội tìm hiểu và giới thiệu với các bạn kho tàng quý này.  

ACEEV
 

Giấy dó là loại giấy đặc biệt của Việt Nam .

Giấy dó được chế tác thủ công từ vỏ của cây dó, một loại cây thân gỗ có nhiều trên rừng núi Việt Nam. Nhựa trong rễ cây dó cổ thụ trăm năm, đọng lại cho trầm, một loại hương liệu quí đắt hơn vàng.

Vỏ dó bóc từ cây dó đem về ngâm trong nước vôi cho nát rữa rồi được vò đập cho chất rã hết phần thịt, lọc lại chỉ còn xơ dó là xenluylo, sau đó đươc cho vào cối giã nát cho nhuyễn, hòa tan vào nước. Để làm giấy người ta pha thêm nước nhớt từ một loại vỏ cây khác rồi chao lên khuôn làm bằng loại mành tăm. Giấy dó một lớp goi là dó đơn, nhiều lớp gọi là kép. Tờ giấy dó có thể hai hoặc có khi dày đến bảy lớp tùy theo ý muốn người xử dụng, có thể bóc giấy ra nhiều lớp. Dó đơn nặng chừng 20gram/m2. Giấy được tẩy rửa bằng cách ngâm nước vôi nên sợi xennlulo không bị xâm hại. Giấy dó tốt có màu trắng ngà, mịn mặt

 

Giấy dó dùng để viết chữ nho, làm văn bản. Nó còn được gọi là giấy Nam. Giấy Nam mỏng một lớp đó là dó đơn Người ta gấp đôi tờ giấy lại đóng sách để viết hoặc dùng giấy đó in các văn bản khắc của nhà chùa. Giấy Vân đằng (mây bay) là loại giấy dó thửa (đặt hàng), khổ to vẽ mây thếp bằng vàng bạc để dùng cho nhà vua hạ sắc phong. Vì chế tác phổ thông, không có chất tẩy mạnh nên giấy khá bền vững. Nó không bị tự hủy nếu luôn được giữ khô ráo. Những sắc phong còn cất giữ được ở các đình làng, để trong ống gỗ từ thời Lê, Nguyễn, Tây Sơn tính ra cũng ba bốn trăm năm bầy giờ giở ra trông vẫn mới nguyên. Những bản kinh phật khắc gỗ in trên dó hiện còn cất giữ trong các chùa vẫn hằn nguyên nét chữ và hình minh họa là một minh chứng khách quan về sự bền vững của giấy.

 

  Đền Hùng.  Tranh vẽ trên giấy DÓ của Đỗ Đức

Có Dó rồi, nhưng để in tranh người ta làm ra giấy dó điệp. Giấy dó điệp là giấy dó được quét một lớp hồ trộn với bột vỏ con điệp lên bề  mặt để in tranh. Điệp là vỏ một loài nhuyễn thể sống ở vùng nước lợ. Con điệp chết, vỏ ngâm dưới nước lâu năm dần mục nát, đọng lại thành từng lớp trầm tích. Người ta khai thác vỏ điệp đó lên, lọc bỏ lớp cặn, cho vào cối giã lấy ra thứ bột trắng ngà lấp lánh sắc xà cừ. Người đem bột đó nắm thành từng nắm to, phơi khô cất giữ. Khi cần làm dó điệp thì dùng dao thái điệp xuống nồi hồ loãng rồi khoắng lên. Dùng chổi thông quét hồ trộn điệp đó lên mặt dó. Cuối cùng đem áp tờ giấy lên tường nhà hong nắng cho khô rồi bóc ra cất đi dùng dần. Dó điệp là giấy làm riêng chỉ để in tranh Đông Hồ. Kích cỡ giấy Trước đây chỉ 20x30cm hoặc 25x35. Loại nhỏ nhất 15x25 còn được gọi là lá mít. (Mít là loại cây ăn quả trồng trong vườn nhà, lá hình ovan không lớn nhưng là loài cây thân thuộc nên tờ tranh nhỏ được ví với lá cây này cho dễ hiểu).

 

Ngoài dùng viết chữ và in tranh, giấy dó còn dùng để bồi mặt nạ, đắp con giống, Trên đầu cột ở các cổng đình thường có con sấu (con vật linh, giống con chó nhỏ, hàm nghê, đứng hoặc phủ phục trên đỉnh cột, hướng ra ngoài như để gác cổng) được bồi từ giấy bản (đây là loại giấy ít dó, pha nhiều bột giấy). Người ta còn dùng bọt mật, nước mật mía trộn với vôi đã tôi(*) để vài năm dẻo quánh, đã lọc sạch cặn, rồi nhào quấy cho kĩ để tạo  thành một loại keo phết lên giấy dó, bồi dần từng lớpNhững con sấu đáp bằng giấy phơi nưa nắng mà vẫn bền vững hàng trăm năm.


 Cô gái H’Mông Sapa . Tranh vẽ trên giấy DÓ của Đỗ Đức

Trước đây giấy dó chưa thành vật liệu trong hội họa mà chỉ dùng đế in (tranh dân gian Đông Hồ). Cũng có một số họa sĩ đã dùng dó để kí họa lấy tài liệu, nhưng chỉ là thử chơi mà không để ý nhất  là khi khổ giấy dó còn nhỏ .

 

Khoảng ba mươi năm (sau 1975) trở lại đây, giấy dó được một số họa sĩ ở Hà Nội dùng thử để vẽ tranh và dần dần phát hiện ra tính ưu việt của chất liệu này. Do nhiều người vẽ và có những bức tranh đẹp. nên dần được mọi người biết đến. Giấy dó được chú ý và dần trở nên có giá trị. Thuật ngữ tranh giấy dó được hình thành. Khi Việt Nam giao lưu với thế giới, khách du lịch đến nhiều và tìm mua tranh giấy dó cũng là nguồn kích thích mạnh.Thế là một số họa sĩ đã lựa chọn dó, chuyên sáng tác trên chất liệu này. Từ đấy hội họa Việt Nam hình thêm một chất liệu mới cho sáng tác là giấy dó. Khi có nhu cầu thị trường, giấy dó được người sản xuất nới rộng khuôn khổ lên 50x70, 60x80 và 80x120cm.

 

Vẽ trên dó người ta có thể dùng bột màu hoặc ome goat. Nhưng phải là loại dó dày kép 4 hoặc 5 trở lên. Cách vẽ này thường bít kín mặt giấy. Còn dùng màu nước (aquaren), mực nho và thêm các màu lấy từ thiên nhiên như nước vỏ cây vang, cây nhội, củ nâu, nước chè, cà phê, hoa hiên, quả dành v v…vẽ kiểu nhuộm dần, vẽ xong còn thấy mặt giấy thì có thể dùng lọai dó mỏng một lớp. Vẽ xong nhìn mặt tranh trong trẻo. Với tôi đó là cách khai thác được cao nhất giá trị của Dó.

 

Tranh vẽ trên giấy dó bền vững với thời gian. Dó giữ được màu, để càng lâu màu càng thắm. Là loại giấy dễ thấm nước nên cùng với thời gian, các hạt màu li ti thẩm thấu sang nhau tạo thêm sắc quí cho tranh.

 

Đôi lời về  hoạt động nghệ thuật

Tôi sinh năm 1945 tại Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, gia đình làm ruộng. Năm 1966 vào học trường Nghệ thuật Việt Bắc(tại Thái Nguyên). Năm 1970 ra làm việc tại một tờ báo. Năm 1976 chuyển sang làm việc ở Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc chuyên về miền núi của Bộ Văn hóa. Là họa sĩ biên tập viên kĩ thuật về sách. Năm 1976 theo học tại trường đại học mĩ thuật Hà Nội, tốt nghiệp năm 1980, chuyên khoa đồ họa (tranh khắc). Là trưởng ban biên tập mĩ thuật của nhà xuất bản.

 

Sáng tác tranh khắc gỗ, chuyên vẽ giấy dó từ 1980. Ngoài ra còn thêm vẽ lụa và sơn dầu.- Nghiên cứu văn hóa sắc tộc.Viết văn, viết báo. Đã in 7 cuốn sách gồm  tản văn, truyên ngắn, tùy bút, nghiên cứu nghệ thuật dân gian.

 

Triển lãm riêng

  • 1985-1993-2001 Hà Nội .
  • Dự trại sáng tác tại Karatxnôida (Liên xô)
  • 2004 được mời đến trung tâm Fenêtre Sur rue ở Bordeaux hướng dẫn vẽ giấy dó và sáng tác, triển lãm trao đổi.
  • 2009 trở lại Bordeaux dự kỉ niêm 10 năm root arts với Fenêtre sur rue, bày tranh với các nghệ sĩ Châu Phi - châu Á - châu Âu và châu Mĩ Latinh. 
  • 15/4  đến 15/5/2009 triển lãm  tranh giấy dó tại Paris.

(Trung tâm văn hóa Việt Nam 19bis-rue Albert 75013)

 

Từ 1973 có tác phẩm tham gia các triển lãm chung trong nước.

1976-1980-1985-1990-1995-2000-2005.

Tham gia đều các triển lãm toàn quốc.

 

  • Có 13 tranh trong bộ sưu tập Bảo tàng mĩ thuật Hà Nội
  • 15 tranh trong bảo tàng Văn hóa các dân tộc
  • Có tranh trong bảo tàng Châu Á Thái bình dương (Ba lan)

 

Đã tham gia triển lãm chung với các họa sĩ tại :

  • 2009 Paris.
  • 2007 Hàn quốc.
  • 2000 Hoa kì.
  • 1998 Nhật bản
  • 1997-1995-1992 Nauy.
  • 1993 Băngladet
  • 1993 Trung Quốc
  • 1990-1987-1983 Italia
  • 1987-1986-1985-1984-1981 Bungary
  • 1986-1989 Tiệp khắc
  • 1981 Cuba
  • 1981 Mông cổ

Bích Động . Tranh vẽ trên giấy DÓ của Đỗ Đức

Đôi lời về bản thân

Tôi quê ở Bắc Ninh, một tỉnh nằm trên châu thổ sông Hồng, giáp với thủ đô Hà Nội hiện nay, một thời là đất kinh kì. Nhưng tôi lại được sinh ra ở Thái Nguyên cách Hà Nội một trăm cây số về phía Bắc. Đó là vùng trung du núi đất, ở xen kẽ với đồng bào các dân tộc như Tày, Nùng, Caolan, Sán chay, Dao. Nên với tôi, núi rừng sông suối là ngôi nhà lớn, cuộc sống của người miền núi là cuộc sống của tôi. Sau này tôi mới nhận ra lối nghĩ và cách sống của người ở nơi tôi được sinh ra đã ăn sâu vào trong tôi một cách tự nhiên như cây cỏ trên nền đất ấy. Nghĩa là chỉ tin cái quan sát thấy, chỉ nói những điều đã rút ra được từ trong lăn lộn với cuộc sống, không thể nào khác được.

 

Là một họa sĩ đồ họa, việc thường xuyên in tranh khắc nên tiếp xúc nhiều với dó, nhưng ban đầu tôi cũng chưa biết đến sức manh của chất liệu này. Tôi chỉ bắt đầu để ý đến việc vẽ trên dó khi xem bức kí họa bằng mực nho của cố họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp. Ông đã vẽ buông một mái đao của chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) trên dó. Bức kí họa đó tôi được xem tại nhà ông khi tôi theo học tại trường đại học. Nhìn cách thâm diễn (vẽ kĩ) bằng mực nho tôi vô cùng ngạc nhiên về sức biểu cảm của giấy. Khi cứng cáp, khi mềm mại, màu và nét chỗ buông chỗ chặn hút vào không gian và nhẹ nhàng tan vào thinh không. Tôi xem như bị thôi miên. Mãi sau này tôi mới nhận ra Ông chính là người khai tâm cho tôi về chất liệu này, mặc dù ông rất ít vẽ trên dó. Đó thật là những cơ duyên.

 

Tôi bắt tay vào vẽ trên dó. Giấy dó lúc đó cũng khá rẻ lại không khó kiếm. Nhưng khi vẽ mới thấy để đạt được vẻ đẹp hấp dẫn như thày tôi đã làm thì cũng không dễ. Đã không ít tờ giấy dó bị loại bỏ ngay sau khi đặt bút.. Nhưng đó chỉ là phần kĩ năng. Kĩ năng có thể rèn luyện được nếu có sự kiên trì. Để có một bức tranh đẹp, đem đựợc mĩ cảm đến với người xem là phải thổi được hồn vào trong nét vẽ thì khó hơn nhiều

 

Tôi cũng biết mình có một khoảng trống rất lớn về lí luận. Mọi việc tôi làm trong sáng tác đều xuất phát từ quan sát rồi từ từ nghiền ngẫm để tổng kết để tìm cách nhận ra qui luật khách  quan của sự vật dù đó cũng có thể cũng chỉ là tương đối.

 

Vẽ gì và vẽ như thế nào mới thực là sự thách thức cam go. Tôi vẽ về miền núi và dân tộc thiểu số do được tiếp cận với đời sống văn hóa của họ. Những giá trị văn hóa đó đã chinh phục tôi. Mỗi chuyến đi về miền rừng là một lần tìm kiếm và tích lũy các giá trị sống trong mỗi dân tộc. Đó là những câu chuyện trong tranh dân gian (cả trong tranh thờ cúng), trong bộ sắc phục và sau đường kim mũi thêu trên những tấm thổ cẩm. Đó là toàn bộ đời sống tinh thần sâu kín được cất giấu dưới màu sắc và đường nét. Những sản phẩm vật chất hữu hình đó chứa đựng rất nhiều giá trị tinh thần của những thế hệ đi trước đã tạo ra nó.

 

Vẽ dó là nhuộm giấy bằng màu. Làm  khi thế nào để khi vẽ xong bức tranh người ta còn thấy mặt giấy và xơ giấy. Đó là quan niệm ứng xử của riêng tôi với chất liệu này.. Tranh lụa người ta cũng làm như vậy nhưng lụa còn công đoạn rửa chuốt cho thớ lụa ăn đều màu và nếu có lỡ tay vẫn còn cơ hội sửa chữa. Nhưng với dó thì không thế. Vẽ dó nếu quá tay xuống mực thì hầu như phải vứt bỏ tờ giấy. Vẽ dó phải như người luyện kiếm, nhát bút phải thuần thục, linh cảm lấy mực trên đầu ngọn bút phải chính xác. Để được vậy vẽ dó phải tĩnh tâm như người nhập thiền, tập trung cao độ nhưng phải buông lỏng cảm xúc như vô thức thì nét mới mềm, màu mới nhuần nhuyễn,  mới chuyển tải được nhưng gì bạn đã định trong đầu.

 

Một sáng tạo nhỏ

Khi xem bức tranh dân gian  Đông hồ công việc nhà nông, đó là bức tranh kể chuyện. Nghệ nhân dân gian đưa lên mặt tranh công việc làm ruộng từ gieo mạ, cấy, gặt và phơi phóng, rồi xay xát lấy gạo nấu cơm tôi phát hiện ra nghệ nhân đã  đưa vào cùng một mặt phẳng rất nhiều không gian, và thời gian (từ gieo mạ đến thu hoạch).

Suy nghĩ về lập thể không gian trong ý tưởng và thể hiện không gian theo lối nhìn cổ điển xuất hiện. Và thêm vào đó, kết hợp với lối nhìn camera đã cho tôi ý tưởng vẽ tranh có nhiều phần và kết nối chúng lại với nhau thành một nội dung đồng nhất. Đó là vào năm 1993.

Cho đến bây giờ thì tôi hoàn toàn yên tâm về sự suy ngẫm sáng tạo của mình.

Mở không gian cho tranh luôn là mong ước của mỗi họa sĩ, đó là các không gian gần xa, không gian tâm linh, không gian vật chất, không gian ảo. Còn thời gian vì thế mà cũng được mở theo hợp lí và gắn kết không gượng gạo.

 

Bức tranh vẽ theo lối này thì sông và biển, vũ trụ và trái đất, khoảng cách địa lí không còn là trở ngại cho những suy tư mà họa sĩ muốn bộc lộ lên cùng một mặt phẳng. Tôi hoàn toàn yên tâm với sáng tạo này.