French (Fr)Viet Nam

Đăng nhập



Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay89
mod_vvisit_counterHôm qua154
mod_vvisit_counterTuần này577
mod_vvisit_counterTháng này3042
mod_vvisit_counterTổng333594

 

 

 

Vãn học
VÀI NÉT ĐẶC THÙ CỦA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN – PDF. In Email
Viết bởi GSTS Trần Văn Khê   
Thứ bảy, 14 Tháng 11 2009 10:57

Đông Nam Á về mặt nhạc khí thuộc về vùng Văn hóa Đồng Thau, nên trong các nước nhạc khí quan trọng nhứt làm bằng Đồng Thau và có những dàn Cồng. Việt Nam trước khi bị Trung Quốc cai trị với chánh sách đồng hóa, cũng có những dàn Cồng. Và Trống Đồng Đông Sơn vừa là một nhạc khí, mà cũng là vật thiêng. Hiện nay phía Bắc, dân tộc Mường gần nhứt với người Kinh, còn một dàn Cồng 7 chiếc, to nhỏ, dầy mỏng khác nhau, từ thấp lên cao Chiêng Giàm, Chiêng Khẩm, Chiêng Voong, Chiêng Tủm, Chiêng Lộn Poong, Chiêng Lộn Péng, Chiêng Cho Ich. Riêng ở Tây Nguyên, các dân tộc thiểu số có những dàn Cồng rất độc đáo. Những nhà dân tộc học Pháp từ lâu đã có nhắc tên và miêu tả những dàn Cồng Chiêng :

- Ông Pierre Huard, năm 1931, đã miêu tả dàn Chiêng 6 chiếc của dân tộc Mnong Maa từ lớn tới nhỏ Ciang mẹ, Ciang rom, Ciang ndol, Ciang tru, Ciang kon. Chữ Ciang đọc là Chiang gần giống như chữ Chiêng.

- Ông Jacques Dournes, năm 1965, đã miêu tả những dàn Cồng của dân tộc Giarai. Ông đã từng sống mấy chục năm trên Tây Nguyên, nói được 7 thổ ngữ. Mặc dầu chuyên về sử thi và phong tục của các dân tộc, bài viết về dàn Cồng của Giarai khá đầy đủ.

- Ông Georges Condominas, đã xuất bản một dĩa hát nhãn hiệu Ocora số OCE80 về dàn Chiêng của Mnong Gar.- Năm 1963, bà Bá tước De Chambure đã đến Việt Nam ghi âm nhiều tiết mục của âm nhạc Cung đình Huế, Chầu văn miền Bắc, Tài tử miền Nam và một số bài của các dân tộc thiểu số về dàn Cồng Tây Nguyên, bà chỉ có một ít bài. Cũng trong lúc ấy bà De Hauteclocque có ghi rất nhiều tiết mục về Cồng Chiêng Tây Nguyên, hiện các băng từ của bà còn được lưu trữ tại Bảo tàng viện Guimet. 

Mặc dầu đề tài nghiên cứu của tôi tại Việt Nam không phải là Cồng Chiêng Tây Nguyên, nhưng tôi có nghe qua các cuộn băng ghi âm của các nhà dân tộc nhạc học kể trên, nên khi tôi về nước lần thứ nhì, năm 1977, cố GS Lưu Hữu Phước có tổ chức một chuyến điền dã tại vùng Pleiku, Buôn Ma Thuột, có GS Tô Vũ cùng đi, chúng tôi đã dự một liên hoan Cồng Chiêng, uống rượu Cần, ghi âm một số tiết mục âm nhạc dân tộc Tây Nguyên và đã được tiếp cận với nhiều dàn Cồng. Trong một buổi họp của Hội đồng Khoa học của Viện Nghiên cứu Âm nhạc và múa, do cố GS Lưu Hữu Phước chủ tọa, tôi có đề nghị nên thành lập một Ban nghiên cứu đặc biệt Cồng Chiêng Tây Nguyên. GS Lưu Hữu Phước giao cho GS Tô Vũ lo công việc đó. Vài năm sau, Nhà thơ Tố Hữu đã giúp tôi xin được một thị thực nhập cảnh cho cố GS Jose Maceda, ông đã cùng đi với GS Tô Vũ đến Tây Nguyên để nghe và tìm hiểu Công Chiêng Tây Nguyên. Với tư cách một chuyên gia về Cồng Chiêng Đông Nam Á, sau khi tiếp cận với Cồng Chiêng Tây Nguyên ông tuyên bố rằng “Cồng Chiêng Tây Nguyên rất độc đáo và vùng Tây Nguyên có thể là cái nôi của Cồng Chiêng Đông Nam Á”. Sau đó, cố GS Lưu Hữu Phước đã giao cho GS Tô Vũ tổ chức nhiều buổi liên hoan Cồng Chiêng tại Tây Nguyên. Và các báo cáo về kết quả những buổi ghi âm, chụp ảnh, xét nghiệm, phân tích nhạc Cồng Chiêng đã được ghi lại thành sách lưu hành nội bộ. Một vài sinh viên được đào tạo trong “lớp thể nghiệm dạy âm nhạc dân tộc Việt Nam trên cấp Đại học”, đã cùng đi thực tập với GS Tô Vũ trên vùng Tây Nguyên. Từ đó, tôi chỉ chuyên sưu tầm, nghiên cứu Âm nhạc truyền thống của người Kinh.Những lúc đi điền dã về nước, tôi có gặp GS Tô Ngọc Thanh, NS Đặng Hoành Loan và trong câu chuyện đã học được với các bạn nhiều kiến thức thú vị về Cồng Chiêng Tây Nguyên. Đến năm 2005, trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt, tôi được Hội đồng Quốc tế Khoa học xã hội, cơ quan được Unesco giao phó trọng trách đánh giá Hồ sơ của nước Việt Nam về Không gian Văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, mời đích danh tôi làm chuyên gia xem xét Hồ sơ và viết một bản đánh giá từ 15 đến 20 trang để gửi cho Unesco trước khi Hồ sơ được Ban giám khảo xem xét. Ngang qua Hồ sơ tôi biết thêm những công trình nghiên cứu về vùng Văn hóa Tây Nguyên và Nghệ thuật Cồng Chiêng Tây Nguyên của nhiều chuyên gia Việt Nam (người Kinh và người Thượng).Trong mấy tuần lễ tôi phải ra Hà Nội để cùng Đặng Hoành Loan lo việc thảo Hồ sơ Ca Trù, tôi gặp được Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, do cháu Nguyễn Thị Minh Châu giới thiệu. Trong 2-3 ngày liền Bùi Trọng Hiền đã cho tôi xem rất nhiều hình ảnh, nghe nhiều bản Cồng Chiêng do cháu ghi lại. Cháu đã ký âm nhiều bản Cồng Chiêng của nhiều dân tộc. Cháu thuật lại một số kinh nghiệm bản thân khi tiếp cận với các nghệ nhân Cồng Chiêng. Tôi biết rõ thêm nhiều yếu tố đặc biệt mà tôi không tìm thấy ở Cồng Chiêng các nước Đông Nam Á khác. Và sau đây tôi tóm tắt những nét độc đáo chánh của Cồng Chiêng Tây Nguyên.

A. Nét đặc thù của Cồng Chiêng Tây Nguyên :

1. Cồng Chiêng Tây Nguyên đa dạng.

2. Cồng Chiêng Tây Nguyên là một vật thiêng, sợi dây nối liền con người và thần linh.

3. Cồng Chiêng có mặt trong đời sống con người từ lúc sơ sanh, qua các sinh hoạt trong đồng áng, trên sông ngòi, thời bình và chiến tranh.

4. Cách chỉnh Cồng và gõ Cồng rất đặc biệt, chính xác, tinh tế (dùi gõ bằng gỗ cứng – gỗ mềm – gỗ có bọc da, tay mặt tạo ra thanh – độ cao – màu âm khác nhau tùy nơi gõ, tay trái có thể tham gia biểu diễn bằng cách bóp vành Cồng làm thay đổi màu âm). Trong tất cả các dàn Cồng Chiêng lớn của Inđonêxia, Malaysia và Phi Luật Tân, nhạc công chỉ gõ lên núm Cồng Chiêng, không dùng tay trái để thay đổi màu âm của tiếng nhạc như trong Cồng Chiêng Tây Nguyên.

5. Biên chế của dàn Cồng rất đa dạng và không căn cứ vào độ cao của các Cồng, chức năng của mỗi loại Cồng trong khi biểu diễn mà còn liên quan đến tổ chức xã hội và triết lý sống của dân tộc trong vùng đó, như chia ra Cồng mẹ, Cồng cha, Cồng con, Cồng cháu – nhắc lại xã hội của các cộng đồng thiên về Mẫu hệ, nên Cồng mẹ được xem là quan trọng nhứt trước cả Cồng cha – Cồng mẹ, Cồng cha phát ra thanh âm trầm nhứt làm nền cho bản nhạc, Cồng con cách khoảng đều nhau như những cây cột dựng lên nhà, Cồng cháu di chuyển, tạo ra những âm thanh có độ cao và phối hợp thành giai điệu giống như kèo và nóc của nhà. Trong các nước Đông Nam Á không có nơi nào chúng ta tìm được việc lập biên chế liên quan đến tổ chức xã hội và triết lý sống của dân tộc trong vùng như thế cả.

6. Cách sắp đặt đối tượng quan trọng ở giữa, trong khi dàn Cồng đi vòng quanh đối tượng để cho khoảng cách giữa người nghe Cồng và mỗi chiếc Cồng bằng nhau.

7. Cồng Chiêng di chuyển từ mặt sang trái, đi ngược với Kim đồng hồ, đi ngược thời gian trở về dĩ vãng. Từ bên ngoài vào đến con tim, một hướng đi thiền hành trong Phật giáo. Chỉ trừ một vài dàn Cồng nhỏ như Gangsa của dân tộc Kalinga (Phi Luật Tân), người đánh Cồng có di chuyển đôi chút và có những động tác gần như múa, nhạc công trong các dàn Cồng lớn Đông Nam Á đều ngồi một chỗ biểu diễn.

8. Cách phát triển giai điệu không đi theo con đường ngay từ thấp đến cao hay đi theo đường cong, mà bằng những mô hình nối tiếp nhau theo những phương pháp lập lại (répétition) trả lời (réponse) … rất độc đáo. 

B. So sánh với các dàn Cồng khác :

Chúng ta thấy rằng, trong các nước Thái Lan, Campuchia, Lào, Miến Điện, những dàn nhạc gồm có nhạc khí chánh là 2 bộ Cồng có núm hình ô trầu, đặt trên một cái giá hình tròn bằng tre nứa hay gỗ nhẹ (khong vong yai Thái Lan, khong thom, khong touch Campuchia …) và nhiều nhạc khí khác. Các dàn nhạc mang tên đặc biệt cho mỗi vùng như Pi-phat (Thái Lan), Pin-peat (Campuchia), Seb-nai (Lào), Pat-waing (Miến Điện) là những dàn nhạc trong đó hai dàn Cồng là nhạc khí chánh, chứ không phải một dàn nhạc toàn là Cồng Chiêng và nhạc khí bằng Đồng như chúng ta đã gặp.

Chỉ có trong các nước Đông Nam Á miền Quần đảo hay Bán đảo là có những dàn Cồng gồm toàn nhạc khí bằng Đồng Thau, nhưng biên chế căn cứ theo chức năng biểu diễn, như trong dàn Gamelan (đặc biệt đảo Java) có 5 loại nhạc khí : 1. Dùng đánh nét nhạc căn bản : Saron – Slentem.

2. Dùng đánh nét nhạc nguyên vẹn : BonangHay tạo nét nhạc đối chọi (Contrechant) : Suling (sáo) – Rebab (đàn kéo cung) – Sinden (người hát độc xướng hay có khi thêm người hợp xướng)

3. Dùng đánh nét nhạc tô điểm : Loại Panerus – Gender Panerus, nét nhạc phát triển hay những câu tiếp nối (Paraphrasant)

4. Nhạc khí chấm câu (Colotomique) có nhiều nhạc khí : Ketuk (giá trị như dấu phết) – Kenong (chấm phết) – Gong gede (chấm câu) – Gong ageng (chấm câu xuống hàng)

5. Nhạc khí tiết tấu (Agogique) : Trống Kendang (thường đánh một cặp, 1 trống + 1 mái, cùng loại như Trống cơm của Việt Nam, gốc từ Trống Mridangam của Ấn Độ miền Nam) Dàn Gamelan dùng ở đảo Java, còn ở Bali thì dàn Cồng được gọi tên là Gong như Gong kebyar, Gong gambuk, Gong gede, Gong semar pegulingan (đánh vào buổi xế), Gong gambuh hay Gong gender wayang (đánh các tuồng múa rối bóng), Gong bebonangan (đánh trong các đám rước). Một dàn Gong gede gồm có 5 nhóm nhạc khí nhưng khác 5 nhóm của Gamelan :1. Một hoặc hai đàn Pengugal, mỗi dàn có 10 thanh đồng, tạo nét nhạc.2. Nhóm Gangsa gồm nhiều dàn xếp từng cặp từ trầm tới bổng : 2 hoặc 4 Djegog, mỗi dàn có 6 thanh đồng – 2 hoặc 4 Djublag, có 5 thanh đồng – 2 Penjekat, có 5 thanh đồng – 2 hoặc 4 Kantil, có 10 thanh đồng – 4 hoặc 8 Pengender, có 10 thanh đồng.3. Đàn Trempong, gồm 10 Cồng hình ô trầu có núm, đặt trên giá gỗ, do 1 nhạc công dùng 3 dùi đầu bịt vải để gõ – Đàn Reong, gồm 12 Cồng hình ô trầu có núm, đặt 1 hàng trên giá gỗ, do 4 nhạc công, mỗi người dùng 2 dùi gỗ để gõ (nếu đàn Reong chỉ có 6 Cồng thì chỉ có 3 nhạc công gõ). Đàn Trempong dùng để mở đầu trong khúc dạo tùy hứng hay đàn biến khúc của nét nhạc chánh. Đàn Reong chỉ tô điểm nét nhạc chánh. 4. Phần tiết tấu do nhiều Cồng to treo đứng như loại Kempul Kenong, hay Cồng to có núm, đặt trên giá gỗ hình vuông Kempli và Ponggan, Chập chõa, Tjeng Tjeng. 5. Một cặp trống loại trống cơm vỗ bằng tay, 1 đực + 1 cái, mang tên là Kendang Lanang và Kendang Wadon.Trong các dàn Gong thường có từ 2 đến 6 ống Suling (một loại sáo bịt đầu) Ở Mã Lai trước kia có Gamelan, nay đã thất truyền, chỉ còn ở vùng Trenganu. Dàn nhạc này chỉ có 7 nhạc cụ :- 2 đàn Sarun : mỗi đàn có 6 thanh đồng- 1 Mộc cầm Gambang : 20 thanh gỗ- 1 đàn Keromong : 10 Cồng hình ô trầu có núm, đặt 2 hàng trên một dàn bằng dây căng thẳng- 3 Cồng to Kenong : hình ô trầu có núm để chấm câu Ở Phi Luật Tân vùng các dân tộc có đạo Hồi giáo, miền Nam như vùng Mindanao, Magindanao và Maranao, có dàn Cồng tên là Kulingtan. Tối thiểu dàn Cồng này có 5 nhạc cụ :- Kulingtan : gồm 8 chiếc Cồng bằng đồng hình ô trầu, đậy nắp, có núm ở giữa, đặt trên một cái giá hình chữ nhựt bằng gỗ, nhạc công dùng 2 dùi gỗ để gõ, thường thì nhạc công là một phụ nữ, ngồi trên ghế.- Dbakan : một trống to, hình cái ly, đặt phía tay mặt của người đờn Kulingtan, tang trống bằng gỗ, mặt bịt da, đánh bằng một dùi, người đánh trống này là một nam nhạc công.- Agung : là một cặp Cồng lớn treo đứng, gồm có 2 Cồng Penang Gisa-an đánh nhịp chánh và Pumansan tiếng Cồng đối với Cồng lớn.- Babndir : một Cồng lớn để gần trống Dbakan, đối diện với người đánh Kulingtan- Gendang : giống như loại trống Kendang của InđonêxiaDàn Cồng của Kulingtan đã thất truyền. Những dàn Cồng Kulingtan được GS Macedan miêu tả trong Luận án Tiến sĩ của ông, nay không còn dưới dạng cổ. Ở vùng Brunei, miền Bắc của Đảo Borneo, có dàn Cồng Gulingtan, một loại với dàn Cồng Kulingtan của Phi Luật Tân. Dàn Cồng Gulingtan gồm có :- Gulingtan : nằm ở giữa, đặt trên giá bằng gỗ.- Gong : Cồng lớn- Chanang : Cồng nhỏ- Tawak tawak : Cồng nhỏ- Gendang labit : trống, cùng loại với Kandang.

Tóm lại :- Những dàn Cồng ở Đông Nam Á thường có Cồng và những nhạc cụ có thanh bằng đồng.- Các nhạc cụ được sắp loại theo kích thước to nhỏ hoặc theo chức năng biểu diễn.- Các dàn Cồng ngồi một chỗ, không di chuyển- Các loại Cồng chỉ được gõ 1 dùi bằng gỗ cứng và thường là 2 búa, chứ không có sự tham gia của bàn tay trái.- Các loại Cồng Chiêng được dùng trong các lễ lớn, trong Cung đình, trong những buổi Hát Wayang.

C. Kết luận :

Sau khi so sánh, tôi phải nhìn nhận rằng không có dàn Cồng nào ở Đông Nam Á tinh vi, tế nhị như loại Cồng Chiêng Tây Nguyên. Chúng ta nên Bảo tồn các loại Cồng Chiêng Tây Nguyên để giữ những nét đặc thù độc đáo, chứ không nên chỉnh dàn Cồng theo thang âm bình quân. Và không thể ghép vào những dàn Cồng dân tộc các nhạc khí loại nhạc nhẹ hay giao hưởng bên phương Tây vì như thế sẽ làm biến chất Cồng Chiêng thành một loại dàn nhạc ngoại lai (nửa Âu, nửa Á) tức là đi nghịch lại với bản tôn vinh của Unesco. 

Bình Thạnh, ngày 07-10-2009

GSTS Trần Văn Khê

LAST_UPDATED2
 
TẢN MẠN VỀ RƯỢU NGON PDF. In Email
Viết bởi GSTS Trần Văn Khê   
Thứ ba, 03 Tháng 11 2009 04:04

 

Trong đời tôi thích uống trà hơn uống rượu, nhưng vì nghề nghiệp tôi thường đi đến nước ngoài, hoặc đi điền dã cho Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp, hay đi công tác cho Cơ quan Văn hoá Liên hiệp quốc (Unesco), và đến mỗi nước tôi thường được coi như “thượng khách”, nên trong những buổi tiệc chiêu đãi lúc mới đến hay khi giã từ, tôi thường được nếm những chung rượu cao cấp.Tôi lại sống tại Pháp, là nơi sản xuất ra những loại rượu nổi tiếng trên thế giới, rượu thật mạnh, có độ cồn cao như các loại cognac ; rượu sôi bọt hương vị đặc biệt loại champagne và các loại rượu nho trắng hay đỏ (vin blanc, vin rouge) … nên trong 50 năm tôi có duyên được nếm gần hết các thứ rượu ngon: cognac Martell, champagne Cordon Rouge, champagne Moet et Chandon, rượu chát trắng vùng Alsace, rượu chát đỏ vùng Bordeaux, Beaujolais, Côte du Rhône và đặc biệt hai loại rượu nổi tiếng là Châteauneuf du Pape, Hospices de Beaune …Tại các nước Âu châu như Ý, Hunggari, Áo, tôi được chiêu đãi rượu chát đỏ thượng hạng. Khi sang nước Anh, đến vùng Ecosse (Scotland) tôi lại được mời thưởng thức các loại Whisky, đến nước Nga, lẽ tất nhiên là được thưởng thức nhiều loại Vodka danh tiếng như Sminoff, Surtov, Elixeev mà các bạn mời nói rằng loại rượu này ngày xưa được chế cho Hoàng gia uống, bây giờ rất khó tìm, và tại Ba Lan rượu Chopin Vodka, ở Phần Lan rượu Finlandia Vodka.Tại Hoa Kỳ, tôi được đãi đủ các loại rượu, thông thường là các loại Whisky chế từ nước Anh và một số tại Mỹ, rất nhiều loại rượu chát trắng và đỏ chế tại vùng California.Tại Úc châu, có rất nhiều rượu nho nổi tiếng, một phần lớn nhờ các chuyên gia cất rượu từ Pháp sang định cư bên Úc.Tại châu Phi, không có thứ rượu nào đặc biệt của thổ dân, khi tôi đến vùng Magreb (Algerie, Tunisie, Maroc) thì được uống rượu nho đỏ của Pháp chế, nhưng tại Algerie có mấy loại rượu do người Algerie cất và hiện được nổi tiếng là loại rượu ngon.Tại châu Á, như các bạn thường biết có rất nhiều loại rượu đặc biệt như Sake Nhựt Bổn, rượu Nhân sâm, rượu ngâm rắn tại Triều Tiên, rượu Mao Đài của Trung Quốc. Thật ra bên Trung Quốc có rất nhiều loại rượu khác nhau, được chia ra làm 2 loại :- Bạch tửu : loại rượu trắng, trên 300, khi uống thường hâm cho ấm, nên có khi được gọi là thiêu tửu như Mai Quế Lộ, Mao Đài cùng nhiều loại khác nữa.- Hoàng tửu : loại rượu màu vàng, thường khoảng 200, ở các Tỉnh Chiết Giang, Phước Kiến, Sơn Đông.Nổi tiếng nhứt là rượu Mao Đài được chế ra tại Tỉnh Quế Châu, (có dòng sông Xích Thuỷ nước rất đặc biệt, được dùng chế rượu) ngày xưa là thứ rượu có độ cao, theo vài chuyên gia Trung Quốc tôi được gặp tại Bắc Kinh thì rượu Mao Đài ngày xưa có đến 650, nhưng ngày nay chỉ còn có từ 360 đến 470. Rượu Mao Đài có một lịch sử lâu đời, rất được thông dụng trong đời nhà Thanh, nhưng rượu Mao Đài nổi tiếng thế giới từ khi Chủ tịch Mao Trạch Đông mời Tổng thống Mỹ Nixon và sau này Thủ tướng Châu Ân Lai dùng rượu Mao Đài đãi thượng khách. Từ đó Mao Đài được xem như là quốc tửu.Tại Việt Nam, từ năm 1976, khi tôi đi điền dã tại Bắc Ninh, tôi được anh chị em Quan họ đãi một tiệc cơm đặc biệt, trong đó có Lợn lan hồng, thịt Gà chọi ướp lá chanh, nếm rượu Làng Vân (một loại rượu trắng rất đặc biệt) làm tôi nhớ lại rượu đế trong Làng Vĩnh Kim Tiền Giang, mà lúc nhỏ tôi đã được thưởng thức sau mùa gặt. Khi rượu vừa mới được cất xong, còn ấm ấm, rót vào ly có bọt nổi sùi, hương vị ngon không thể tả. Sau này, tôi có dịp nếm rượu Bầu Đá, do GS Hoàng Chương chiêu đãi và khi đến vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, tôi lại được thưởng thức một lần nữa rượu Bầu Đá đậm đà. Trong Nam, có loại rượu mạnh ở Gò đen không kém các rượu kể trên.Tuy không phải là một người thích và sành uống rượu, tôi lại được cái may là nếm qua các loại quí tửu của nhiều nước trên thế giới. Từ mỗi nơi, tôi còn giữ lại cái hương vị của các loại rượu ngon. Nhưng không khí những buổi chiêu đãi chánh thức không làm cho tôi được sảng khoái. Ngược lại, những lần thưởng thức rượu đặc biệt còn để lại một ấn tượng tốt đẹp trong lòng tôi, là những khi được bạn mời đặc biệt như lúc sang Mạc Tư Khoa uống rượu Vodka một buổi chiều đông với nhạc sĩ Zagorsky, một người bạn rất thân trong Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Unesco). Laurent Aubert, khi tôi đến nói chuyện âm nhạc Việt Nam cho đài phát thanh  Genève (Thuỵ Sĩ) trong một chương trình do anh phụ trách. Anh rất vui. Tối lại, anh đem ra một chai rượu chát đỏ rất đặc biệt và nói rằng : “Khi tôi vừa mới chào đời, cha tôi mua mấy trăm chai rượu ngon ghi ngày sanh của tôi trên chai để dùng đãi bạn thân của cha tôi. Khi tôi trưởng thành, cha tôi cho tôi một trăm chai rươu đó. Mỗi khi có sự kiện đặc biệt, tôi đem một chai rượu đó ra để đãi tiệc. Tối nay, để kỷ niệm buổi nói chuyện hào hứngtrên đài phát thanh về âm nhạc Việt Nam, tôi khui chai rượu này để chúng ta cùng chung vui”. Rượu tuy ngon nhưng không thể nào sánh được với Châteauneuf du Pape nhưng ngược lại, trong tôi còn giữ lại ấn tượng mạnh mẽ cả một không khí chan hoà tình bạn và hương vị đậm đà của rượu chát đỏ đêm đó. Mới đây, tôi được một người bạn vong niên, chủ một quán trà đạo, đến thăm và mời tôi nếm ba loại trà đặc biệt mà cô đã dùng đãi khách quí trong quán. Đó là trà Thanh Tâm, Tứ Quí, và đặc biệt trà San Tuyết ở Cao Bằng. Thưởng thức trà ngon, ít có dịp được uống trong những bộ trà thật đẹp do người chuyên gia về trà Việt và trà Tàu pha chế với những động tác dịu dàng uyển chuyển, nghe lời giới thiệu các loại đặc hương trà đó duyên dángvà đầy thi vị, tôi có cảm giác như được thoát trần. Sau ba tuần trà, cô lấy ra một bình rượu và nói rằng : “Hôm nay, Viên Trân muốn mời thầy nếm một chút rượu do VT cất theo cách thức của ông cố truyền lại trong gia đình”. Chung rượu bằng sứ trắng được thêm vào màu vàng lợt trong trẻo có chút bọt đọng lại phía trên vừa làm đẹp mắt, vừa thúc giục tôi nếm thử một loại rượu ngon mà tôi chưa từng được nếm. Khi chung rượu đến kề môi, một mùi hương nhẹ nhàng của hoa Cúc mùa thu thoảng lên, tôi lim dim đôi mắt mà tai vẫn nghe : “Thưa thầy, rượu này V T cất từ hoa Cúc vàng, chọn những hoa non, hái từ cuối thu trước, ủ trong đường phèn và nếp ngon. Khi lên men, mới cất thành rượu”. Miệng tôi nếm Hoàng tửu, một vị ngọt nhẹ nhàng thấm trên đầu lưỡi, rồi lan nhẹ vào vòm miệng. Rượu không mạnh lắm đến làm tê cả lưỡi nhưng đã làm mềm cả môi. Khi ngậm lại, một mùi hương Cúc thoảng nhẹ làm rung động khứu giác. Trong khi, tôi đang thưởng thức tận cùng hương vị của rượu ngon thì tai tôi vẫn nghe : “Thưa thầy, rượu này mang tên là Hoàng Hoa tửu, chắc thầy còn nhớ trong cổ thi có bài :  Xuân du phương thảo địa, Hạ thưởng lục hà trì,Thu ẩm Hoàng hoa tửuĐông ngâm bạch tuyết thi”.Bài thơ đó tôi cũng đã biết từ lâu, lúc sang Bắc Kinh, ngoài rượu Mao đài, tôi đã được thưởng thức hoàng tửu cất tại Chiết Giang. Rượu chát trắng mang tên Trường Thành nhưng Hoàng hoa tửu đối với tôi là một thứ rượu huyền thoại đã biết ngang qua bài thơ nhưng chưa bao giờ được thưởng thức ngoài đời. Tối hôm nay, khi tuổi đời sắp đến 90. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới biết hương vị của Hoàng hoa tửu.Uống chung thứ nhì, để thẩm định hương vị của Hoàng hoa tửu, nhận xét cảm tưởng của mình, rồi lại uống chung thứ ba, thấy trong người lâng lâng không phải vì rượu mạnh mà vì hương vị quá đặc biệt do người Việt Nam chưng cất theo truyền thống gia đình.Khi uống một chén trà ngon, tôi nhớ tới Nguyễn Trãi, người đã khen trà Tước Thiệt, lá trà như lưỡi chim se sẻ trồng ở Quảng Trị. Khi gảy đàn, người đã viết ra : “đàn Nam chỉ gảy khúc nam thôi”. Hôm nay uống rượu Hoàng hoa, tôi lại nhớ câu thơ của người : “Nhứt hồ bạch tửu tiêu trần lự” tức “một bình rượu trắng làm tan nỗi lo trên đời” và có cảm giác rằng hôm nay “Nhứt bôi hoàng tửu sử nhân đáo mộng” tức “một chén rượu vàng khiến cho người uống đang sống đời thực mà như được đi vào cõi mộng”. Và trong trạng thái tâm hồn nửa say, nửa tỉnh, tôi nhớ lại một vài câu thơ tôi đã đọc từ lâu “Cảm hoài uống chén hoàng hoa, chao ơi ! Mầu rượu có pha sắc lòng” của Phạm Ngọc Sử hay thơ của Tản Đà : “Thê ngôn tuý tửu chân vô ích, ngã dục tiêu sầu, thả tự do” tức là vợ bảo say men thật vô ích, nhưng ta muốn cho tiêu sầu thì cứ uống tự do. Thi sĩ uống rượu để tiêu sầu như Lý Bạch đời Đường “Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu” là nâng chén uống để tiêu sầu mà sầu vẫn còn sầu. Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ được danh tiếng bởi những bài thơ say, say rượu cả say tình nên có câu : “Em ơi lửa tắt bình khô rượu, đời vắng em rồi say với ai”. Tôi uống rượu không tiêu sầu,tôi uống rượu không để say.Chén trà, chung rượu đêm nay,làm tôi sảng khoái, ngất ngây thoát trần. Tôi đang chìm sâu vào trong biển văn hoá ẩm thực của Việt Nam.

Bình Thạnh, ngày 21-10-2009, GSTS Trần Văn Khê

LAST_UPDATED2
 
Hồn quê núi PDF. In Email
Văn học
Viết bởi Tản văn của ĐỖ ĐỨC   
Thứ ba, 20 Tháng 10 2009 12:52

Năm Vàng Thị Sính được tuyển về làm phát thanh viện tiếng Mông ở đài, chị mới 16 tuổi, đang học lớp 8 trường vùng cao. Ở Lao Chaỉ quê chị, cứ tuổi ấy là tuổi lấy chồng nên con gái đã rất thạo xe lanh dệt vải, nhuộm chàm in sáp. Chị được gửi đi học sớm vì bố mẹ nghe vận động học chữ để tiến bộ, để biết nhiều cách làm ăn. Thế là chị bỏ vườn lanh trồng dở, để lại sợi lanh tước chưa xong trong quẩy tấu cho các anh chị, ra học trường tỉnh.

       Lúc ấy cán bộ dân tộc có nhiều chữ rất hiếm hoi, chỉ lớp 8 đã là quý, nên dù đang học, chị đã được đài tuyển dụng.   Sau một thời gian ngắn đào tạo tại chỗ, Sính trở thành phát thanh viện chính thức. Rồi chị lấy chồng thị xã, sinh con và trở thành người của phố phường. Tuổi trẻ hoà nhập rất nhanh. Như mọi phụ nữ khác, chị cũng quần phăng áo hoa, khi váy ngắn, lúc áo dài, đầu tóc lúc sấy, lúc cắt ngắn, lúc để dài uốn búp cầu kỳ. Chị như bông hoa cố khoe đủ sắc. Nếp sống đô thị đã đi vào người Sinh từ hình thức đến nội dung.

Có lẽ Sính chỉ còn một phần rất nhỏ chất người Mông trong mỗi lần nghỉ phép về thăm quê Lao Chải. Mà việc đó cũng đâu có đều đặn hàng năm. Lần này Sính về quê dài ngày.

Gặp chị lúc trở về tôi mới biết mẹ chị đã ra đi vì tuổi già. Chưa kịp nói lời chia buồn với chị thì Sính đã rơm rớm nước mắt : « Sắp đến tuỏi hưu, lần này về làm ma cho mẹ thấy bộ váy áo lanh bà ngoại đưa cho mẹ ngày đi lấy chồng được đem ra khâm liệm, em mới giật mình xót xa thương bà, thương mẹ và còn tự thương thân mình nữa… » Chuyện của Sính làm tôi lại nhớ đến ngày cưới của chị tại cơ quan. Đám cưới đời sống mới do công đoàn cơ quan đứng ra tổ chức, có đủ hoa, đủ kẹo, thủ trưởng làm chủ hôn. Họ hàng hai bên đều như khách mời, không có nghi lễ gì giữa hai họ, dâu rể không cần lễ bái. Chúng tôi thấy vui, Sính cũng cho thế là gọn nhẹ, mới mẻ, không phức tạp như cách thức cưới ở bản. 

        Đến nay thời gian đã lùi xa vài bốn chục năm. Từ một cô gái thơ ngây, Sính đã thành bà mẹ chững chạc, mái tóc mỏng đi, thêm vài sợi bạc. Trôi theo dòng tâm sự của chị : « liệu tôi có còn là người Mông không nhỉ ? là người Mông mà không biết trồng lanh, tước lanh, se lanh, dệt vải không biết nhuộm chàm in sáp…đến cả bộ váy để về với tổ tiên cũng không có trong hòm…». Tôi chưa biết cất lời thế nào để an ủi thì chị lại tiếp : « Anh không hiểu người Mông chúng tôi đâu. Anh đã nghe câu hát này chưa ? Đói đến chết cũng không ăn thóc giống – Rách cũng phải có tấm áo lanh mặc lúc chết. Đấy tổ tiên tôi bảo thế. Không có váy áo lanh mặc lúc chết thì hồn người Mông sẽ lạc mất tổ tiên. Giờ thì tôi mới thấy buồn vì không được mẹ trao cho bộ váy lanh trong ngày cưới như phong tục… » 

Tôi ngồi lặng bên chị. Ngoài kia phố xá ồn ào, mà ở đây không gian như đóng băng. Tuổi trẻ đã đi qua. Những vất vả đời thường đã lùi về phía sau. Tất cả, Sính đã vượt qua không suy tính. Nhưng hôm nay, sau lần về Lao Chải, trong lòng chị lại thức dậy những tín điều, tưởng như đã vuột mất tự bao giờ.

Hóa ra trong mỗi người, hồn quê luôn chiếm giữ một địa vị thiêng liêng, chỉ không biêt nó sẽ thức dậy vào lúc nào…