French (Fr)Viet Nam

Đăng nhập



Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay61
mod_vvisit_counterHôm qua76
mod_vvisit_counterTuần này287
mod_vvisit_counterTháng này2549
mod_vvisit_counterTổng322368

 

 

 

Để bảo vệ chủ quyền dân tộc, không còn con đường nào khác, con đường kháng chiến cứu nước

  Hải Ngọc Thái Nhân Hòa (*)

 

 

Con đường kháng chiến cứu nước, chống xâm lược là đặc trưng của các dân tộc bị xâm lược , bị áp bức, nhằm đấu tranh giành lại chủ quyền dân tộc, bảo vệ độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và đế quốc.  

Dân tộc Việt Nam đã phải chiến đấu liên tục, chống giặc ngoại xâm triền miên, mới bảo vệ được chủ quyền dân tộc và trưởng tồn đất nước. 

 

Qúa trình kháng chiến cứu nước

Ngay từ buổi bình minh dựng nước, trong truyền thuyết dân gian, nước Văn Lang của các vua Hùng đã phải đương đầu với nhiều thứ « giặc ». Câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc Ân, cứu dân cứu nước là một huyền thoại tiêu biểu về tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm đầu tiên, mang tính lịch sử sâu sắc.

Nếu mùa Xuân Ất Tỵ (225 trước Công Nguyên) với sự tích xây thành Cổ Loa (huyện Đông Anh) dưới thời An Dương Vương đã trở thành truyền thống vẻ vang đấu tranh giữ nước của dân tộc, thì Xuân Canh Ty (năm 40 đầu Công Nguyên) nổi lên hai vị nữ anh hùng Trưng Trắc và Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa chống quân Đông Hán, mở đầu lịch sử oai hùng chống xâm lược của dân tộc ta.

Ngạn ngữ có câu « giặc đến nhà đàn bà cũng đánh » là trên ý nghĩa đó.

 

Kể từ cuộc kháng chiến chống Tần vào năm 214-208 trước Công Nguyên:

  • Hai lần kháng chiến chống quân Nam Hán năm 931 và năm 938.
  • Hai lần kháng chiến chống quân Tống năm 981 và 1075- 1077.
  • Ba lần kháng chiến chống quân Nguyên-Mông năm 1258, năm 1285 và năm 1287-1288 của Trần Hưng Đạo. Dân tộc ta đương đầu với giặc ngoại xâm 8 lần, mỗi lần từ 10 đến 30 năm, ngót 350 năm chiến đấu bền bỉ, liên tục, gian khổ hy sinh để bảo vệ chủ quyền dân tộc.
  • Tiếp đó, hai lần kháng chiến chống quân Minh năm 1406-1407 và năm 1418-1427 của Lê Lợi.
  • Cuộc kháng chiến chống quân Xiêm năm 1784-1785 và cuộc kháng chiến chống quân Thanh năm 1788-1789 của Nguyễn Huệ - Quang Trung.

Tất cả những cuộc chiến đấu nêu trên đều nhằm giành lại Độc Lập dân tộc và chủ quyền đất nước.

Suốt thời kỳ Minh thuộc, dân tộc Việt Nam không ngừng đấu tranh, liên tiếp vùng lên chống quân Minh. Nổi bật là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn năm 1418 của Lê Lợi, từ khắng chiến đến chiến thắng vẻ vang, giành lại Độc Lập tự chủ cho dân tộc ngày 3/11/1427. « Giang sơn từ đây đổi mới, xã tắc từ đây vũng bền » như nhà thi hào Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo đầu Xuân Mậu Thân – 1428.

Trên nền tảng xã hội Việt Nam đã được Độc Lập tự chủ, dân tộc Việt Nam đã nhanh chóng đánh bại sự xâm lược của quân Xiêm (1784-1785) và thần tốc đánh thắng quân Thanh xâm lược (1788-1789) vào ngày đầu Xuân Kỷ Dậu  31/01/1789.

Chiến thắng quân Thanh, người anh hùng dân tộc Quang Trung, với ý chí bảo vệ chủ quyền Độc Lập dân tộc, đã cảnh cáo kẻ thù xâm lược « Đánh cho sử tri, Nam quốc anh hùng chi hữu chủ ».

Những kẻ thù xâm lược vẫn chưa nhận ra « Nam quốc anh hùng chi hữu chủ » chưa hiểu rõ « Nước Nam anh hùng là có chủ ».

Từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cấu kết nhau xâm lược nước ta, trên thực tế, Mỹ can thiệp vào chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam. Hơn 80 năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, nhân dân ta và toàn thể dân tộc ta không ngừng nổi lên chống thực dân Pháp xâm lược.

Từ cao trào « Xô viết Nghệ - Tĩnh » 1930-1931, cao trào dân chủ 1936-1939, « Nam Kỳ Khởi Nghĩa » (23/11/1940) đến « Tổng Khởi Nghĩa tháng Tám 1945 » thành công, rồi « Nam Bộ kháng chiến » (23/9/1945) dẫn đến « Toàn Quốc Kháng Chiến »  (19/12/1946) và tiến hành kháng chiến trường kỳ, làm nên « Điện Biên chấn động địa cầu » (7/5/1954)

Khó khăn thách thức đều vượt qua, Hiệp Định Genève được ký kết  (7/1954)

Đó là thắng lợi to lớn của ta về đấu tranh ngoại giao, phản ảnh tương quan thắng lợi về mặt quân sự trên chiến trường.

Bất chấp hiệp định quốc tế đã ký kết, đế quốc Mỹ và tay sai đã ngang nhiên phá hoại Hiệp Định Genève, tăng cường khủng bố, đàn áp, đánh phá ác liệt phong trào yêu nước của nhân dân ta ở Miền Nam (1) (2) xóa bỏ Hiệp Thương Tổng Tuyển Cử thống nhất nước nhà. đẩy nhân dân miền Nam vào con đường phải bảo vệ quyền sống, đấu tranh dành tự do dân chủ và hòa bình xây dựng đất nước.

« Tức nước vở bờ », nhân dân Miền Nam đã vùng lên đấu tranh, làm nên cuộc « Đồng Khởi » 1959-1960, mở ra xu thế tấn công địch trên toàn Miền. Nổi bật là chiến dịch Xuân Mậu Thân – 1968, tập kích chiến lược và nổi dậy đồng loạt của quân dân ta ở Miền Nam, đã giáng cho địch những đòn sấm sét vào hang ổ của Mỹ-Ngụy ở Sài Gòn, làm lung lay nền thống trị của chúng ở Miền Nam và buộc chúng phải « xuống thang chiến tranh, và ngồi vào bàn đàm phán »…!

 

Trước thất bại nặng nề đó, đế quốc Mỹ vẫn còn ngoan cố, liều lĩnh, hí hửng với sức mạnh của « không lực Hoa Kỳ » (máy bay B52, siêu âm, cường kích…) đưa chiến tranh phá hoại ra Miền Bắc (hè 1972) đánh phá cuộc xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa của nước ta trên Miền Bắc. Nhưng đế quốc Mỹ đã tính nhầm, gặp phải sức mạnh quân sự của ta với đường lối chiến tranh nhân dân, sức mạnh của các phi đội luôn sẵn sàng xuất kích, chiến đấu ngoan cường, dũng mãnh và sức mạnh của « hậu phương lớn », giáng trả cho kẻ thù xâm lược những đòn đích đáng, lập nên chiến thắng « Điện Biên Phủ trên không », đầu tháng 12/1972.

Quân dân ta bảo vệ vùng trời, vùng biển, vùng lãnh thổ, bảo vệ cuộc sống xã hội ở Thủ Đô và bảo vệ vững chắc thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa, tiếp tục chi viện lớn cho « tiền tuyến lớn » đánh to thắng lớn.

Phát huy thắng lợi đã giành được, quân dân ba Miền Bắc-Trung-Nam không ngừng đoàn kết môt lòng vì sự nghiệp « Giải phóng Miền Nam » và « Bảo vệ Miền Bắc », chiến đấu và luôn chiến thắng, đánh bại « chiến tranh đặc biệt » và « chiến tranh cục bộ » cuả đế quốc Mỹ ở Miền Nam.

Đúng như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong Di Chúc của Người :

« Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài, đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi, hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,

Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay » (3)

 

Trước khí thế hừng hực chiến đấu và chiến thắng của quân dân ta trên chiến trưnờg Miền Nam, chiến dịch Tây Nguyên mở ra với chiến thắng Ban-Mê-Thuột, trận mở màn quyết định giải phóng Tây Nguyên ngày 10/03/1975 , tạo ra cục diện mới, quân ta tiến quân đánh mạnh ở đồng bằng và đô thị. Tiếp đến chiến dịch Xuân Lộc mở ra ngày 9/04/1975 ( sau một ngày chiến dịch Hồ Chí Minh mở ra) quân ta đã đánh to thắng lớn, đập tan phòng tuyến thép Mỹ-Ngụy bảo vệ Xuân Lộc, giải phóng Xuân Lộc-Long Khánh ngày 21/04/1975, cửa ngõ Đông Bắc Sài gòn mở toang, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực của ta ở Miền Đông Nam Bộ tiến quân vào Sài Gòn phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh ngày (08/04/1975) tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử - đại thắng mùa Xuân 1975 là đỉnh cao của cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng Miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà va đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

 

Ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

Với thắng lợi to lớn đó, làm nức lòng phấn khởi quân dân cả nước và bầu bạn thế giới. Từ đó dân tộc Việt Nam bước vào thời kỳ mới - thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hôi trên cả nước, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

 

Ôn lại một chặng đường lịch sử chiến đấu và chiến tranh vẻ vang của dân tộc ta trong thời kỳ giữ nước.  Xây dựng và bảo vệ đất nước, nhân dân Việt Nam ý thức một cách sâu sắc rằng : bảo vệ chủ quyền dân tộc, vì độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, « Con cháu các vua Hùng » không có con đường nào khác, con đường chống xâm lược, kháng chiến cứu nước và « cùng nhau giữ lấy nước », cùng nhau xây dựng đất nước.

Từ thực tiễn nêu trên, khẳng định con đường kháng chiến cứu nước, bảo vệ chủ quyền dân tộc là tất yếu và tất thắng, mở ra thời kỳ lịch sử hiện đại của dân tộc ta từ đó.

 

Dưới đây là mấy nội dung cơ bản mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc :

 

(1)              Tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945 thành công, chính quyền Công-Nông được thành lậpvới Tuyên Ngôn Độc Lập 02/09 nhà nước Công-Nông được thành lập, mở đầu kỷ nguyên mới - kỷ nguyên Độc Lập tự do – dân chủ nhân dân trong cả nước. Ở Nam Bộ, chính quyền nhân dân Nam Bộ vừa mới ra đời chưa đầy một tháng đã phải đứng lên kháng chiến – « Nam Bộ kháng chiến »(23/09/1945) . Đúng là chưa đầy một tháng (từ 25/08/45 đến ngày 23/09/45) như nhà thơ Hưởng Triều đã viết :

 

     … « Có ai kiếm được khắp chân trời góc biển

Một thàn phố trẻ măng

Nhưng lịch sử rất lạ lùng

Từ thuở chào đời, suốt mấy trăm năm

Chỉ sống tự do có hai mươi chín ngày ngắn ngủi

Chưa thỏa niềm vui

giặc đã đến rồi

Súng lại cầm tay

Đạn nói thay lời

Ôi chỉ có hai mươi chín ngày ngắn ngủi

Mà ân tình gắn bó đến thịt xương… » (4)

 

Thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ Hai, nhằm xóa bỏ thành quả Cách Mạng vừa mới giành được. Vận mệnh dân tộc đứng trước tình thế nước nhà như « Ngàn cân treo sợi tóc ». Không có con đường nào khác, khi khả năng hoà hoãn không còn, khi kẻ thù dồn dân tộc Việt Nam vào chỗ phải lựa chọn. « Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ » như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định và kêu gọi « toàn quốc kháng chiến » chống xâm lược Pháp (19/12/1946). Cả nước đứng lên, toàn dân vùng dậy kháng chiến cứu nước cho đến ngày toàn thắng.

Thật đúng như vậy, độc lập dân tộc không tự nó đến.

Phải đấu tranh lâu dài và hy sinh xương máu cho sự nghiệp độc lập dân tộc, tự do, dân chủ của nhân dân, mới có tự do, độc lập và hạnh phúc cho toàn dân tộc.

 

(2)              Kẻ thù xâm lược thường lớn mạnh hơn nhiều so với dân tộc bị áp bức. Dân tộc Việt Nam luôn luôn phải đương đầu với các thế lực thù địch. Từ những đế quốc lớn mạnh thời cổ Trung đại đến những cường quốc, đế quốc chủ nghiã thời cận - hiện đại như thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong đó chiến thắng Điện Biên Phủ của quân dân ta là một điểm son trong trang sử của dân tộc.

Kẻ thù xâm lược vẫn chưa nhận rõ thất bại thảm hại của chúng trong trong cuộc chiến tranh xâm lược ba nước Đông Dương nói chung và Việt nam nói riêng .

Đê quốc Mỹ đưa « cố vấn quân » sự vào Miền Nam, hà hơi tiếp sức cho Ngụy quyền Saì Gòn tiến hành « chiến tranh đặc biệt » ào ạt đưa quan đội Mỹ và chư hầu vào Miền Nam, thực hiện « chiến tranh cục bộ » trên quy mô lớn ở Miền Nam và đưa chiến tranh phá họai ra Miền Bắc với cường độ chiến tranh tổng lực và hủy diệt. Nhằm khuất phục quân dân ta trên mọi Miền đất nước. Nhưng kẻ thù xâm lược liên tiếp bị thất bại thảm hại trước sức mạnh của quân dân kết hợp với sức mạnh của dân tộc, thời đại mà dân quân ta đã tạo ra trên chiến trường đánh Mỹ, thắng Mỹ.

Rõ ràng là kẻ thù xâm lược  đã gây ra bao đău thương mất mát và thiệt hại cho nhân dân ba miền đất nước, phá hoại cuộc sống  yên lành của toàn dân tộc đã dành được từ Cách Mạng muà Thu Lịch Sử 1945, cũng như công cuộc xây dựng cuộc sống mới trên nửa phần đất nước từ thắng lợi Hội Nghị Genève 1954. Chính trong thời gian đó, « kẻ gieo gío, gặt bão » và « nợ máu phải trả bằng máu là lẽ tự nhiên. « Mỹ cút ,Ngụy nhào ! » là vậy. Chủ quyền dân tộc ta được giữ vững. Cuộc sống xã hội tiếp tục phát huy, cả nước đi lên trong sự nghiệp đổi mới, giành thắng lợi mới !

 

Như chúng ta đã biết, lịch sử Các Mạng thế giới vẫn còn ghi nhận « Tuyên ngôn Độc Lập » của nước Mỹ năm 1776 và « Tuyên Ngôn Nhân Quyền – Dân quyền » của nước Pháp năm 1971 đều khẳng định : « Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự do bình đẳng… » Bởi vậy, trước hiểm hoạ xâm lược, nhân dân Việt Nam không sao tránh được, con đường kháng chiến cứu nước : « Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào » để giải phóng Miền Nam và thống nhất Tổ Quốc. Với ý chí bất khuất giành lại chủ quyền nước ta và « Không có gì quý hơn Độc Lập Tự Do » như Bác Hồ đã dạy. Đó là lẽ sống, con đường sống của nhân dân ta.

Dân tộc Việt Nam chiến đấu và liên tục chiến thắng để bảo vệ chủ quyền dân tộc mình, đồng thời phù hợp với nguyện vọng các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

 

(3)              Dân tộc Việt Namcó quyền tự hào chính đáng về bản anh hùng ca giữ nước vẻ vang của mình. Từ chiến thắng quân Tống xâm lược với bài thơ Nam quốc sơn hà của lý Thường Kiệt vang lên bên bờ sông Như Nguyệt (năm 1077) đến Bình Ngô đại Cáo của Nguyễn Trãi khẳng định chủ quyền dân tộc ta sau ngày chiến thắng quân Minh (năm 1427), đến đại phá quân Thanh ở gò Đống Đa ( Xuân Kỷ Dậu – 1789) và Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2/09 1945 của Chủ Tịch Hồ Chí Minh tại vường hoa Ba Đình lịch sử là sự tiếp nối vẻ vang của dân tộc Việt Nam.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 của quân dân Việt Nam đã khẳng định tư tưởng vĩ đại của Người : « Không có gì quý hơn Độc Lập Tự Do » thắng lợi vẻ vang đó là kết qủa tất yếu của sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng ta lấy tư tưởng Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động Cách Mạng Việt Nam. Với đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện « Độc Lập dân tộc với Chủ Nghĩ Xã Hội » cach mạng Miền Nam và cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta, dưói sự lãnh đạo của Đảng ta, được sự đồng tình và giúp đỡ to lớn của bầu bạn xa gần trên thế giới, đưa Cách Mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, ngày càng tỏa sáng dưới vòm trời Đông-Nam-Á.

Đó là nguyên nhân sâu xa, là cội nguồn thắng lợi, mà các bậc tiền nhân qua bao lớp người xả thân vì nước, đã tạo thành sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù xâm lược giành lại chủ quyền dân tộc, làm thất bại chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở Việt Nam trong thời đại ngày nay.

 

(4)       Tự hào về chiến thắng vẻ vang của dân tộc bao nhiêu, nhân dân Việt Nam càng thông cảm sâu sắc bấy nhiêu với các dân tộc bị áp bức và nô dịch đang đấu tranh cho Độc Lập dân tộc, tự do bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới.

Nhưng đối với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nhân dân việt Nam chẳng những không đồng tình mà còn phẫn nộ trước mọi hành động cực đoan, quá khich của các thế lực phản động, đẩy nhân dân các dân tộc vào cuộc chiến tranh tương tàn, đẩm máu và kéo theo nghèo đói.

 

            (5)              Thế giới ngày nay đã đổi thay, nhận thức con người cũng có những thay đổi nhất định. Nhiều quốc gia dân tộc từng đối đầu, đụng độ  nhau, chấp nhận xếp lại hận thù, xem qúa khứ thuộc về lịch sử « hãy bỏ qua quá khứ, nhìn vào tương lai, bắt tay nhau đi tới !... » đó là một hiện tượng mới trong xu thế của thời đại ngày nay. Lịch sử Việt Nam còn ghi lại không ít những tấm gương « hoà hiếu » của tiền nhân, những anh hùng dâ tộc như :Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung đều tỏ rõ sự « khoan dung độ lượng » của mình đối với kẻ thù xâm lược khi chúng đã quy hàng hay bại trận.

Các anh hùng hào kiệt và danh nhân đất nước còn có cả chính sach « khoan hồng » đối với hàng binh và chính sách « bang giao hoà hiếu » của mình với nước đi xâm lược bị đánh bại.

Hiện nay, với đường lối đối ngoại đúng đắn của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam ngày càng rộng mở, đã khẳng định tinh thần : « Đoàn kết - hợp tác - hội nhập quốc tế » dựa trên nguyên tắc « Tôn trọng chủ quyền Độc Lập dân tộc, bình đẳng và hai bên cùng có lợi » nhằm làm cho « dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh » như Nghị quyết Đại Hội VIII của Đảng đã đề ra.

 

Ngày nay, nhân dân Việt Nam tuy còn « nhà tranh vách lá » đời sống còn không ít khó khăn, nhưng rất mực hiếu khách : «  Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước ». Hiệp định thương mại Việt-Mỹ được ký kết (7/2000) là xuất phát từ đường lối đối ngoại đúng đắn của Việt Nam và thực tiễn sinh động nêu trên.

Từ thực tiẽn phong phú và sinh động đó, nhân dân ta không ngùng phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc, mở ra từ thời Hùng Vương dựng nước cho đến thời đại Hồ Chí Minh vinh quang ngày nay. Nhân dân ta quyết tâm bảo vệ và xây dựng đất nước ngày cang giàu mạnh, phồn vinh theo định hướng  Xã Hội Chủ Nghĩa của Đảng và nhà nước ta.

 

 

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05/09/2008

H.Ng

 

________________

 

(*)        Hải Ngọc Thái Nhân Hoà Hội khoa Học Lịch Sử Việt Nam

( địa chỉ tác gỉa  65/1A Thủ Khoa Huân . P. Bến Thành. Q1. Tp HCM. Đt 09 03 834576). Tham luận Hội thảo khoa học « Nhận thức về chiến tranh Việt Nam » do Hội đồng chỉ đạo biên tập « Nam Bộ khắng chiến » tổ chức tại Tp HCM (tháng 09/2008)

 

(1)              Theo số liệu của chế độ Sài gòn thú nhận trong vòng 10 tháng, từ tháng 07/1955 đến tháng 05/1956 chúng đã bắt và giết 108.835 người yêu nước, người dân vô tội. Hội đồng Trung Ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các Bộ Môn Khoa học Chủ Nghĩa Mác-Lênin và Tư Tưởng Hồ Chí Minh. Giáo Trình Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nxb Chính Trị Quốc Gia. Hà nội – 2001, tr 210.

 

(2)              Số đảng viên, cán bộ, cơ sở cách mạng bị giết hoặc bị bắt bỏ tù lên tới hàng trăm, hàng nghìn người ở địa phương. Riêng ở Miền Đông Nam Bộ, sau 1954 có 14.365 đảng viên đến cuối năm chỉ còn 1.950 đảng viên. Lich sử Đảng bộ Miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ 1945-1975. Nxb Chính Trị Quốc gia . Hànội . tr 238.

 

(3)              Chủ Tịch Hồ Chí Minh : Di Chúc Ban chấp hành trung ương Đảng Lao Động Việt Nam. Xuất bản ngày 10/05/1969.

 

(4)              Hưởng Triềụ. Trần Bạch Đằng : Bài ca khởi nghĩa. Tuyển tập thơ. Nxb Văn học Tp. HCM. 1996. tr44.